Xem tuổi vợ chồng tuổi Sửu chi tiết: 4 lớp xét và 5 cặp ví dụ
Muốn biết hai vợ chồng có hợp tuổi không, đừng chỉ nhìn con giáp. Bài chỉ cách xét lần lượt bốn lớp nạp âm, thiên can, địa chi, cung phi và phân tích năm cặp có thật số liệu.
Xem tuổi vợ chồng cho người tuổi Sửu nên xét đủ bốn lớp: nạp âm (mệnh hai người sinh hay khắc), thiên can, địa chi và cung phi Bát trạch. Những cặp được máy chấm cao nhất thường thuận cả ba, bốn lớp, ví dụ nam Tân Sửu 1961 với nữ Nhâm Dần 1962 (87%) hay nam Ất Sửu 1985 với nữ Quý Hợi 1983 (87%). Một lớp vướng, như Sửu gặp Mùi là địa chi xung, chỉ kéo điểm xuống chứ không có nghĩa hai người không nên lấy nhau.
| Lớp xét | Nhìn vào đâu | Riêng với tuổi Sửu |
|---|---|---|
| 1. Nạp âm | Hành mệnh của hai người sinh, khắc hay hoà nhau | Đinh Sửu: Giản Hạ Thuỷ · Kỷ Sửu: Tích Lịch Hoả · Tân Sửu: Bích Thượng Thổ · Quý Sửu: Tang Đố Mộc · Ất Sửu: Hải Trung Kim |
| 2. Thiên can | Chữ đầu của năm sinh có hợp hoá hay khắc nhau | Năm can của người tuổi Sửu: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý |
| 3. Địa chi | Con giáp hai người hợp, xung, hình, hại hay phá | Lục hợp Tý · Tam hợp Tỵ, Dậu · Xung Mùi · Hại Ngọ · Phá Thìn · Hình Tuất, Mùi |
| 4. Cung phi | Cùng nhóm Đông hay Tây tứ mệnh, ghép ra Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị hay cặp xấu | Cùng năm sinh nhưng nam và nữ có thể khác cung, như Quý Sửu 1973: nam Ly, nữ Càn |
Lớp nạp âm: mệnh chồng và mệnh vợ có nuôi nhau không
Nạp âm là lớp người ta hỏi trước tiên, vì nó cho biết bản mệnh hai người tương sinh, bình hoà hay tương khắc. Vòng tương sinh quen thuộc là Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Khi mệnh chồng sinh mệnh vợ, người xưa nói chồng là người nâng đỡ; khi mệnh vợ sinh mệnh chồng thì vợ là chỗ dựa. Cả hai chiều đều được coi là tốt, chỉ khác nhau ở chỗ ai thường phải gánh phần nhiều hơn.
Bình hoà, tức hai người cùng hành, không xấu. Hai mệnh cùng là Giản Hạ Thuỷ giống như hai dòng nước nhỏ chảy chung một lạch, dễ hiểu nhau nhưng cũng dễ cùng yếu một chỗ. Tương khắc mới là chỗ cần để ý, ví dụ người Tân Sửu mệnh Thổ lấy người mệnh Mộc thì Mộc khắc Thổ. Dù vậy, nạp âm chỉ là một lớp trong bốn, đừng vì một chữ khắc mà gạt đi một người mình thật lòng quý.
Lớp thiên can: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý gặp chữ nào thì hợp
Thiên can có năm cặp ngũ hợp: Giáp với Kỷ, Ất với Canh, Bính với Tân, Đinh với Nhâm, Mậu với Quý. Áp vào người tuổi Sửu, Ất Sửu gặp người can Canh, Đinh Sửu gặp can Nhâm, Kỷ Sửu gặp can Giáp, Tân Sửu gặp can Bính, Quý Sửu gặp can Mậu là được điểm cộng ở lớp này.
Ngược lại, can khắc nhau thì bị trừ. Bốn cặp xung hay được nhắc là Giáp – Canh, Ất – Tân, Bính – Nhâm, Đinh – Quý; ngoài ra còn những cặp khắc theo hành của can, như Kỷ (Thổ) khắc Quý (Thuỷ). Khi can khắc lại rơi đúng vào địa chi xung, máy HopTuoi ghi chú riêng là "thiên khắc địa xung". Với người tuổi Sửu, ghi chú này luôn rơi vào bạn đời tuổi Mùi, chẳng hạn nam Tân Sửu 1961 với nữ Ất Mùi 1955 hoặc Đinh Mùi 1967.
Lớp địa chi: Sửu hợp Tý, Tỵ, Dậu và vướng Mùi, Ngọ, Thìn, Tuất
Đây là lớp ai cũng tự tính được trên đầu ngón tay. Tuổi Sửu lục hợp với Tý, tam hợp với Tỵ và Dậu (ba tuổi gom thành cục Kim). Phía khó là xung với Mùi, hại với Ngọ, phá với Thìn, và nằm trong bộ tam hình Sửu – Tuất – Mùi.
Cách hiểu cho đời thường: lục hợp và tam hợp là hai người dễ bắt nhịp, ít phải giải thích; xung là hai cá tính đối đầu, cùng cứng; hại và phá là những va chạm lặt vặt kéo dài. Biết trước chỗ va thì sắp xếp được, giống như biết nhà có bậc cửa cao thì bước chậm lại chứ không ai bỏ nhà.
Lớp cung phi: lớp hay bị bỏ quên nhưng ảnh hưởng tới nhà cửa
Cung phi tính riêng cho nam và nữ, nên cùng sinh năm 1973 mà chồng Quý Sửu thuộc cung Ly (Đông tứ mệnh), vợ Quý Sửu lại thuộc cung Càn (Tây tứ mệnh). Ngược lại, Tân Sửu 1961 và Đinh Sửu 1997 thì nam nữ đều cung Chấn. Hai cung ghép lại cho ra một trong tám cặp Bát trạch: bốn cặp tốt là Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị; bốn cặp kém là Tuyệt Mệnh, Ngũ Quỷ, Lục Sát, Hoạ Hại.
Lớp này ít tác động tới chuyện tình cảm theo nghĩa hẹp, nhưng lại quyết định cách chọn hướng nhà, hướng giường về sau. Cặp cùng nhóm Đông hoặc cùng nhóm Tây thì dễ chọn một hướng nhà chung hợp cả hai; khác nhóm thì phải dung hoà, chi tiết có trong bài hướng nhà hợp tuổi Quý Sửu 1973.
Năm cặp ví dụ, xét đủ bốn lớp
Số liệu nạp âm và cung phi dưới đây lấy theo từng năm sinh, điểm phần trăm là kết quả máy HopTuoi tổng hợp cả bốn lớp. Bạn có thể dùng đúng trình tự này để tự xét cặp của mình.
Nam Tân Sửu 1961 – nữ Nhâm Dần 1962: 87%
Nạp âm: chồng Bích Thượng Thổ, vợ Kim Bạch Kim, Thổ sinh Kim nên chồng nâng vợ. Thiên can: Tân thuộc Kim, Nhâm thuộc Thuỷ, Kim sinh Thuỷ, thuận. Địa chi: Sửu với Dần không xung không hợp, giữ mức bình thường. Cung phi: chồng Chấn, vợ Tốn, ghép thành Diên Niên, cặp chủ về gắn bó lâu dài. Ba lớp thuận, một lớp trung tính, đó là lý do điểm cao.
Nam Ất Sửu 1985 – nữ Quý Hợi 1983: 87%
Nạp âm: Hải Trung Kim gặp Đại Hải Thuỷ, Kim sinh Thuỷ. Thiên can: Quý (Thuỷ) sinh Ất (Mộc), vợ đỡ chồng. Địa chi: Sửu và Hợi bình thường. Cung phi: chồng Càn, vợ Đoài, cùng Tây tứ mệnh, ghép thành Sinh Khí. Vì cùng Tây tứ mệnh, bốn hướng tốt của hai người trùng hẳn nhau (Tây Bắc, Đông Bắc, Tây, Tây Nam), nên đi xem nhà chỉ cần lọc một bộ hướng.
Nam Ất Sửu 1985 – nữ Giáp Tý 1984: 80%
Nạp âm: cả hai là Hải Trung Kim, bình hoà. Thiên can: Ất và Giáp cùng hành Mộc. Địa chi: Tý – Sửu lục hợp, lớp đẹp nhất của cặp này. Cung phi: chồng Càn, vợ Cấn, ghép thành Thiên Y. Không có lớp nào khắc, chỉ là lớp nạp âm và thiên can ở mức hoà chứ không sinh, nên điểm thấp hơn cặp trên một chút.
Nữ Đinh Sửu 1997 – nam Bính Tý 1996: 84%
Nạp âm: cùng Giản Hạ Thuỷ. Thiên can: Bính và Đinh cùng Hoả. Địa chi: Tý – Sửu lục hợp. Cung phi: chồng Bính Tý cung Tốn, vợ Đinh Sửu cung Chấn, ghép thành Diên Niên. Đây là kiểu cặp "giống nhau" điển hình: ba lớp hoà hoặc hợp, cung phi lại cùng Đông tứ mệnh nên hướng nhà Bắc, Nam, Đông, Đông Nam đều hợp cả hai. Chỗ dễ hụt của cặp giống nhau là không ai chịu làm người phanh, nên giao rõ một người giữ sổ chi tiêu chung ngay từ đầu.
Nam Quý Sửu 1973 – nữ Kỷ Mùi 1979: 63%, có ghi chú thiên khắc địa xung
Nạp âm: chồng Tang Đố Mộc, vợ Thiên Thượng Hoả, Mộc sinh Hoả, tốt. Thiên can: Kỷ (Thổ) khắc Quý (Thuỷ). Địa chi: Sửu – Mùi xung. Cung phi: chồng Ly, vợ Chấn, ghép thành Sinh Khí, rất tốt. Hai lớp đẹp, hai lớp vướng, máy cho mức trung bình khá. Rất nhiều gia đình như vậy vẫn êm ấm, miễn là hai người biết mình cùng cứng và để dành chỗ lùi cho nhau.
Cặp vướng một vài lớp nên sắp xếp chuyện sống chung thế nào
Phần này thực tế hơn mọi bảng điểm. Với cặp địa chi xung như Sửu – Mùi, hãy thoả thuận từ đầu ai quyết việc gì: chẳng hạn chồng lo tiền lớn như nhà, xe, vợ lo chi tiêu hằng tháng và học hành của con, để không phải tranh nhau từng quyết định. Một buổi tối cố định mỗi tuần ngồi xem lại sổ chi tiêu chung giúp những va chạm nhỏ không tích lại thành chuyện lớn.
Với cặp khác nhóm cung phi, ưu tiên hướng nhà theo người trụ cột kinh tế hoặc người đứng tên sổ đỏ, rồi bù cho người kia bằng hướng bàn làm việc, hướng giường hoặc phòng riêng. Với cặp can khắc, điều nên tập là nói chuyện bằng việc cụ thể ("tháng này mình để dành năm triệu nhé") thay vì phán xét tính cách ("anh lúc nào cũng tiêu hoang"). Những thói quen này không cần thầy, không cần lễ, làm đều là thấy nhà nhẹ hơn.
Nếu định cưới trong năm 2027, nên đọc thêm bài cưới hỏi năm 2027 cho tuổi Sửu, vì Đinh Mùi là năm tuổi Sửu phạm Xung và Hình Thái Tuế, việc chọn tháng cưới cần chậm rãi hơn bình thường. Danh sách đầy đủ theo từng năm sinh có ở bài nam Tân Sửu 1961 lấy vợ tuổi gì và tuổi Sửu xung khắc tuổi nào. Mọi kết quả xem tuổi đều mang tính tham khảo; điều giữ một cuộc hôn nhân vẫn là cách hai người đối xử với nhau mỗi ngày.
Câu hỏi thường gặp
Trong bốn lớp, lớp nào nặng nhất khi xem tuổi vợ chồng tuổi Sửu?
Mỗi trường phái cân một kiểu, nhưng đa số người làm nghề coi nạp âm và địa chi là hai lớp được nhìn nhiều nhất. Cung phi quan trọng khi chọn hướng nhà, còn thiên can thường dùng để phân biệt những cặp có điểm gần nhau.
Tuổi Sửu lấy tuổi Mùi có được không?
Được. Sửu – Mùi là địa chi xung, có cặp còn dính thêm can khắc nên máy ghi "thiên khắc địa xung", nhưng các lớp còn lại có thể bù. Ví dụ nam Quý Sửu 1973 với nữ Kỷ Mùi 1979 vẫn đạt 63% nhờ nạp âm tương sinh và cung phi Sinh Khí.
Vợ chồng cùng tuổi Sửu có hợp không?
Cùng chi Sửu là "trùng", không xung không hợp. Phần còn lại tuỳ năm sinh: cùng năm thì nạp âm và thiên can bình hoà, cung phi có khi khác nhóm như Quý Sửu 1973. Hai người cùng tuổi trâu thường hiểu nhịp sống của nhau nhưng cần một người mềm hơn khi bất đồng.
Điểm phần trăm hợp tuổi bao nhiêu thì nên lo?
Không có ngưỡng nào bắt buộc phải lo. Điểm thấp chỉ cho biết các lớp vướng nhiều, nên dùng nó để biết chỗ cần nhường nhau. Nhiều cặp điểm thấp vẫn sống bền vì họ chủ động sắp xếp vai trò trong nhà.
Đã cưới rồi mới biết khắc tuổi thì làm gì?
Không cần làm lễ gì đặc biệt. Hãy xem cặp mình vướng lớp nào rồi áp dụng cách sắp xếp tương ứng: chia rõ việc tiền, chọn hướng giường hợp người yếu sức hơn, cùng nhau lên lịch cho các việc lớn. Sự đồng lòng có giá trị hơn mọi phép hoá giải.